Syndicate content

Vietnam

Việt Nam: Một kỳ thi quốc gia có đánh giá được hết năng lực học sinh?

An Thi My Tran's picture
Also available in: English
Học sinh Việt Nam tham dự kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông.
Photo: Van Chung/World Bank

Sau nhiều tháng thảo luận sôi nổi, Bộ Giáo dục và Đào tạo cuối cùng đã ra thông báo về việc tổ chức một kỳ thi quốc gia chung để xét công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) và lấy kết quả làm căn cứ tuyển sinh đại học, cao đẳng.

Cho đến năm học vừa qua, học sinh Việt Nam vẫn phải tham gia hai kỳ thi riêng sau khi hoàn thành 12 năm học phổ thông: một kỳ thi tốt nghiệp THPT và sau đó là kỳ thi tuyển  sinh đại học, cao đẳng. Cả hai kỳ thi này đều có tính quyết định cao và tạo nhiều áp lực lên các em học sinh và gia đình.

Vietnam: Can One National Exam Test All?

An Thi My Tran's picture
Also available in: Tiếng Việt
Students in Vietnam attend the high school completion exam.
Photo: Van Chung/World Bank

After months of impassioned public discussion, Vietnam’s Ministry of Education and Training has finally announced that one national exam will determine high school graduation and the exam results will be used as the basis for university entrance admission.

Until recently, Vietnamese students took two tests after completing 12 years in school: one was for high school graduation and the next was for university entrance. Both were high stakes tests that created pressure on students and their families.

Vietnam’s long-term growth performance: A comparative perspective

Axel van Trotsenburg's picture
Also available in: Tiếng Việt


Vietnam has achieved remarkably high and inclusive GDP growth since the late 1980s. GDP growth per capita increased three-and-a-half-fold during 1991-2012, a performance surpassed only by China. The distribution of growth has been as remarkable as its pace: the bottom 40% of the population’s share in national income has remained virtually unchanged since the early 1990s, ensuring that the rapid income gains got translated into shared prosperity and significant poverty reduction.

GDP growth, however, has been operating on a lower trajectory since 2008. This has led to questions regarding the sustainability of the growth process, and, with it, Vietnam’s ability to bounce back to about 7-8% per capita growth. Analysts have voiced concerns over declining total factor productivity growth and growing reliance on capital accumulation. Moreover, a number of competitiveness issues routinely get raised by private investors, including: a widening skills gap, limited access to finance, relatively high trade and transport logistics costs, an overbearing presence of the SOEs, and heavy government bureaucracy that makes it difficult for businesses to operate in Vietnam.

Tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam: Góc độ so sánh

Axel van Trotsenburg's picture
Also available in: English


Kể từ cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao với lợi ích bao trùm. GDP bình quân đầu người tăng 3,5 lần trong giai đoạn 1991-2012 — chỉ sau Trung Quốc. Cùng với tốc độ tăng trưởng, phân bố tăng trưởng cũng là một thành tích rất đáng ghi nhận: phần thu nhập quốc gia dành cho nhóm 40% dân nghèo nhất hầu như không thay đổi kể từ đầu thập kỷ 1990 tới nay, điều này đảm bảo rằng tăng trưởng kinh tế được phân phối cho mọi tầng lớp và giảm nghèo một cách đáng kể.

Tuy nhiên, kể từ 2008, tăng trưởng GDP đã đi theo một quỹ đạo thấp hơn. Qua đó đã nảy sinh một số câu hỏi về mức độ bền vững của tăng trưởng và liệu Việt Nam có thể khôi phục mức tăng GDP bình quân đầu người 7-8% hay không. Các nhà phân tích quan ngại về xu thế giảm tăng trưởng năng suất nhân tố tổng hợp và mức độ phụ thuộc ngày càng nhiều vào tích tụ vốn. Thêm vào đó, các nhà đầu tư tư nhân cũng thường xuyên nêu các vấn đề liên quan đến năng lực cạnh tranh như kỹ năng ngày càng thiếu, khó tiếp cận vốn, chi phí thương mại và kho vận tương đối cao, độc quyền của các doanh nghiệp nhà nước và bộ máy hành chính cồng kềnh gây cản trở hoạt động của doanh nghiệp.

Việt Nam phải đối mặt với những thách thức gì khi tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân?

Aparnaa Somanathan's picture
Also available in: English



Trong tuần này, Việt Nam sẽ chủ trì tổ chức Hội nghị các Bộ trưởng Y tế ASEAN lần thứ 12 tại Hà Nội. Bảo hiểm y tế toàn dân  (BHYTTD) sẽ là một trong những chủ đề chính của hội nghị, cả trong các diễn đàn chính thức và không chính thức, giữa các nhà hoạch định chính sách của khu vực. Dù thế nào thì mục tiêu tiến tới BHYTTD, được hỗ trợ bởi việc tăng chi tiêu của nhà nước để trợ cấp cho các đối tượng tham gia bảo hiểm, cũng là một trong những nội dung có sự thống nhất cao nhất trong chính sách y tế của khu vực ASEAN hiện nay.
  
Có thể nói, Việt Nam đã phần nào đi trước khu vực nhờ tăng đều độ phủ bảo hiểm y tế trong suốt những năm 1990. Với Luật Bảo hiểm Y tế ban hành năm 2008, Việt Nam đã hợp nhất các chương trình bảo hiểm y tế hiện hành, áp dụng chính sách một bên chi trả duy nhất, trước cả một số nước lớn trong ASEAN khác như Inđônêxia và Philipin. Hiện nay, không những có tới 68% dân số đã tham gia bảo hiểm y tế mà nhà nước cũng đã đầu tư đáng kể vào cơ sở hạ tầng bên cung và nâng cao năng lực nguồn nhân lực y tế trong nước để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng của người dân.

What lies ahead in Vietnam’s path towards Universal Health Coverage?

Aparnaa Somanathan's picture
Also available in: Tiếng Việt



This week, Vietnam will host the twelfth ASEAN Health Minister’s Meeting in Hanoi. Universal Health Coverage (UHC) is likely to take center-stage in discussions, both formal and informal, among the region’s policymakers. After all, the drive for UHC, backed by large increases in public spending to subsidize coverage, is one of the most uniting features of health policy in the ASEAN region today.

Vietnam is somewhat forerunner in the region, having steadily expanded health insurance coverage through the 1990s. Through the Law of Social Health Insurance in 2008, Vietnam consolidated existing health insurance programs and adopted a single payer design ahead of some other larger ASEAN countries such as Indonesia and the Philippines. Today, not only is 68% of the population enrolled in health insurance but significant public sector investments have also been made to the supply side infrastructure and health human resource capacity of Vietnam in order to meet the growing demand for health care.

Fighting climate change: What I Learned from WBG President and 22 Vietnamese Youngsters

Giang Huong Nguyen's picture
Also available in: Tiếng Việt
Jim Yong Kim to Vietnamese Youth: What's Your Plan to Tackle Climate Change?
World Bank Group President Jim Yong Kim listened to a group of more than 20 young Vietnamese environmental activists sharing their initiatives on fighting climate change. He challenged them to work together to build a bigger plan to both adapt to climate change and tackle the issue that Vietnam's carbon intensity will increase 20%.



“How you can live and adapt to climate change… How you can together tackle the issue of carbon intensity of Vietnam?”World Bank Group President Jim Yong Kim challenged 22 young Vietnamese environmentalists, including myself, at a roundtable discussion on the impacts of climate change to Vietnam during his visit to the country. Around that time, Vietnam and some neighboring countries were hit by typhoon Rammasun. It could have been a coincidence, but it gave us a sense of urgency and how serious the issue of climate change is.

East Asia and Pacific countries can do better in labor regulation and social protection

Truman Packard's picture

Those unfamiliar with the fast growing emerging economies of East Asia are likely to think that governments in these countries let market forces and capitalism roam free, red in tooth and claw. That was certainly my impression before coming to work in the region, and generally that held at the outset of our work by the group of us that wrote a new World Bank report “East Asia Pacific At Work: Employment, Enterprise and Wellbeing” .

The report shows just how wrong we were. We could be forgiven this impression—many of us had come from assignments in Latin America and the Caribbean or in Europe and Central Asia, where the distortions and rigidities from labor regulation and poorly designed social protection are rife, and where policy makers cast envious looks at the stellar and sustained employment outcomes in East Asia.

Well, it turns out that although they came relatively late to labor regulation and social protection, many governments in the region have entered this arena with gusto. We were surprised to find that, going just by what is written in their labor codes, the average level of employment protection in East Asia is actually higher than the OECD average.

Does Women’s Leadership in Vietnam Matter?

Victoria Kwakwa's picture
Also available in: Tiếng Việt
High primary enrollment ratios for girls and impressive female labour force participation rates are two striking examples of Vietnam’s progress on gender equality. On female leadership, however, Vietnam has a huge unfinished agenda. The good news is that a recent study by Grant Thornton (2013) shows women’s leadership in business is growing and 30 percent of Board of Director roles in Vietnam are held by women compared to the global average of 19 percent. Women’s membership in the Communist Party has also risen from over 20 percent in 2005 to more than 30 percent in 2010.   The not so good news is that across business, government and political spheres, the face of leadership in Vietnam is still overwhelmingly male. 

In the last decade and a half, the share of women in the National Assembly has been declining. Only one out of nine chairs of National Assembly Committees is female. Women’s representation remains low in key bodies of the Communist Party: the Politburo (two out of 16), the Central Committee and the Secretariat.  In Government, the civil service has a large percentage of women but their representation in leadership is small and tends to be at lower levels: 11 percent at the division level, 5 percent at director level and only 3 percent at ministerial level (UNDP, 2012).

But should we be concerned about getting higher levels of women in leadership? Is this just about “political correctness” or can having more women in leadership in business, government and politics benefit Vietnam’s development?
 

Pages