Syndicate content

East Asia and Pacific

Staying the Course in Mongolia: 14 years institutionalizing community participation

Helene Carlsson Rex's picture
Also available in: Mongolian
In development we want things to go accordingly to plan.  We look for tools, guidelines and best practices in our quest for results and impact. But we also know that development is not an exact science and things do not always go according to plan.  Changes in government or an economic downturn can quickly make a project design irrelevant.

But in some cases, it does go (more or less) accordingly to plan despite bumps in the road along the way.  One such example is the Sustainable Livelihoods Program series in Mongolia, which on September 17, 2015 launched its third and final phase.

Back in 2002, after a series of particularly harsh winters that killed one-third of the livestock in Mongolia and added even more strain to an already impoverished rural population, the World Bank decided to support a new approach to sustainable livelihoods. At that time, the country had little history of community participation in local development planning, and few rural finance options.  

The vision was to place investment funds at the local level and to give the communities a strong voice in the allocation of these funds. Because of the risks associated with the severe winters in Mongolia, pastoral risk management and winter preparedness were to be strengthened. And with a history of inefficient central planning, supporting a policy shift towards greater fiscal decentralization was very important.

This vision and core principles were translated into the design of the three-part Sustainable Livelihoods Series, which included piloting, scaling-up and institutionalization phases.

Vietnam: Breaking gender stereotypes that hinder women’s empowerment

Victoria Kwakwa's picture
Also available in: Tiếng Việt
Empowering Women with Job Opportunities

In August 2015, I traveled with colleagues to An Giang Province in southern Vietnam to visit beneficiaries of an innovative project that is helping 200 Cham ethnic minority women learn embroidery.  Selling their embroidery, they earn incomes for themselves. We were inspired by the positive change that the small amount of money invested in this project is bringing to the lives of these women and their families.
This project, with funding from the 2013 Vietnam Women’s Innovation Day, supported by the Vietnam Women’s Union, the World Bank, and other partners - private and public - has helped improved economic opportunities for Cham women.  All through the old traditional art of embroidery.    
“This training and job creation project has helped a group of women get a stable monthly income of more than two million Dong (about $100), without leaving their homes. This means they can still take care of their children and look after their homes,” Kim Chi, a local female entrepreneur and leader of the project, told us. “Women participating in the project not only learn embroidery skills, which preserve Cham traditions, but also provide opportunities to share experiences in raising children and living a healthy life style, and support each other when needed.”
While we were all excited about the successes under the project, a bit more reflection reminded me that unless cultural norms which require Cham women to mainly work from home, are addressed, it will be hard for projects like this, no matter how well designed, to have a lasting impact in helping Cham women realize their full economic and social potential. 

Xoá bỏ những định kiến về giới đang cản trở phát huy quyền và năng lực của phụ nữ tại Việt Nam

Victoria Kwakwa's picture
Also available in: English
Tạo cơ hội việc làm để trao quyền và nâng cao năng lực cho phụ nữ tại Việt Nam

Tháng 8/2015, tôi cùng đồng nghiệp đến An Giang thăm các đối tượng hưởng lợi của một dự án sáng tạo giúp 200 phụ nữ dân tộc Chăm học nghề thêu. Những phụ nữ này có thể tự tạo thu nhập bằng cách bán sản phẩm thêu của mình. Chúng tôi cảm thấy rất ấn tượng trước sự thay đổi tích cực mà khoản đầu tư nhỏ của dự án đã mang lại cho những phụ nữ này và gia đình họ.
Dự án nhận được sự tài trợ của Chương trình Ngày Phụ nữ Sáng tạo Việt Nam 2013 và hỗ trợ của Hội Phụ nữ Việt Nam đã cho phép Ngân hàng Thế giới và các nhà tài trợ công và tư nhân khác hỗ trợ phụ nữ Chăm, tăng cường năng lực kinh tế của mình bằng nghệ thuật thêu truyền thống.
“Dự án đào tạo và tạo việc làm này đã giúp một số phụ nữ tạo được thu nhập ổn định, khoảng trên 2 triệu đồng, mà không phải đi làm xa nhà. Như vậy có nghĩa là họ vẫn có thể trong nom con cái và lo việc gia đình”, bà Kim Chi, một chủ doanh nghiệp địa phương và đồng thời là người khởi xướng dự án chia sẻ. “Phụ nữ tham gia dự án không chỉ học được nghề dệt, gìn giữ truyền thống của người Chăm mà còn có thể trao đối kinh nghiệm nuôi dạy con cái, tổ chức một cuộc sống lành mạnh và giúp đỡ nhau khi cần.”
Tuy rất phấn khích về thành công của dự án nhưng chúng tôi cũng nhận thấy rằng nếu các chuẩn mực văn hoá đòi hỏi phụ nữ Chăm phải làm việc ở nhà không thay đổi thì khó có thể nào giúp phụ nữ Chăm phát huy quyền của mình và phát triển đầy đủ tiềm năng kinh tế và xã hội của họ thông qua các dự án tương tự, dù các dự án đó được thiết kế và thực hiện tốt như thế nào.

The World Bank's shared history with Singapore

Jordan Z. Schwartz's picture
The 50th birthday of the nation this year has given Singaporeans a chance to look back with pride at the achievements over the course of one generation—as a country, as an economy and as a people.
But it is not only Singaporeans who have a vested interest in understanding the causes of their economic growth and vast improvements in quality of life over this past half-century.
For those of us in the field of economic development, who advise and invest in emerging markets and developing economies so they might alleviate poverty and grow equitably and sustainably, we view these ingredients of success as critical to our mission.
If only we could reverse-engineer the magic elixir, the recipe for success could then be applied to other countries still struggling to improve health outcomes and reduce illiteracy, to offer their populations reliable and affordable basic services, good jobs and better lives.

Монголын нийгмийн халамжийн хөтөлбөрүүд ядуучуудад тусалж байна уу?

Junko Onishi's picture
Also available in: English

Монголын эдийн засгийн өнөөгийн байдал нь түүхий эдийн үнэ унасан, эдийн засгийн өсөлт буурсан гэдэг хоёр хүчин зүйлийн нийлбэр дээр байна. Энэ байдал нь орлогын бууралтад илүүтэй өртөж байгаа ядуучууд болон эмзэг бүлгийн хүмүүсийг хамгаалах нийгмийн халамжийн тогтолцоог шаардаж байгаа юм.

Нийгмийн халамжийн тогтолцоо хэр сайн ажиллаж байгааг дүгнэхийн тулд нийгмийн халамж юунд зарцуулагдаж байгааг, ядуу, эмзэг гэр бүлд зарцуулагдаж байна уу, үүнээс тэд хангалттай хамгаалалтыг авч чадаж байна уу гэдгийг авч үзэх хэрэгтэй. 

Social welfare programs in Mongolia - are they helping the poor?

Junko Onishi's picture
Also available in: Mongolian

Mongolia’s current economic situation is characterized by a combination of falling commodity prices and slowing growth. This heightens the need for the country’s social welfare system to protect the poor and the vulnerable from the threatened fall in incomes.

To assess how well the system is performing, it is necessary to consider Mongolia’s spending on social welfare - whether it is directed towards poor and vulnerable households, and if the benefits provide effective and adequate protection.

동아시아의 도전 과제

Axel van Trotsenburg's picture
Also available in: English | 中文

동아시아는 지난 30년 간 이어진 전례 없는 경제 성장 덕분에 전 세계 경제의 25%를 차지하는 경제 동력원으로 성장했다. 중국, 인도네시아, 말레이시아, 태국, 베트남을 비롯한 이 지역은 좀 더 노동 집약적이고 포용적인 성장을 이루어낸 덕분에 수억명의 사람이 극심한 가난에서 벗어나 더 큰 번영을 누릴 수 있었다.

이러한 성공에는 대가가 따랐다. 지난 해를 기준으로 동아시아 인구 중 1억명이 아직도 하루 1.25 달러로 생활한다. 약 2억 6000만명이 여전히 하루 2달러 미만으로 생활하고 있는데, 이들은 세계 경제가 악화되거나 자국에 보건 악재 혹은 식량난이 발생하면 다시 가난에 빠질 가능성이 있다. 이들의 불확실한 미래야말로 동아시아의 급성장이 낳은 불평등이 갈수록 커지고 있음을 보여준다. 

이 지역의 소득 격차는 2008년 세계 금융위기로 말미암아 한층 가중되었다. 중국과 인도네시아의 경우 소득 격차가 악화되었으며 싱가포르, 말레이시아, 필리핀에서는 소득 격차의 정도가 계속해서 높은 수준에 머물러 있다..

Далайн хар шуурга, циклонгүй Улаанбаатар хотод үерийн аюул нүүрлэнэ гэв үү, үгүй байлгүй дээ?

Artessa Saldivar-Sali's picture
Also available in: English
Улаанбаатар хотын үерийн эрсдэлийг багасгах нь

Циклонд хамгийн өртөмтгий Манила хотод төрж өссөн миний хувьд  Монгол Улсад  анх ирэхдээ зах хязгааргүй  өргөн уудам тал нутаг, ,  хөх  тэнгэрээр нүдээ хужирлана  гэж бодож байлаа. Үнэхээр  өргөн уудам тал нутаг , хөх цэнхэр тэнгэр  миний нүдийг хужирласан, харин Монгол Улсын  нийслэл Улаанбаатар бол миний урд өмнө нь  амьдарч, ажиллаж байсан олон хотоос нэг их ялгаагүй юм байна  гэдгийг төдөлгүй ойлгосон.
Энд  хурдацтай өсөн дэвжиж байгаа  хотын дуу  чимээ бий. Хөдөө орон нутгаас илүү боломжтой амьдралын төлөө хүмүүс  Улаанбаатар хотод шилжин ирсээр байгаа бөгөөд  Монгол улсын  нийт хүн амын гуравны нэгийнх нь гэр орон болжээ. Улаанбаатар космополитан хот болсоор, энд куба тогоочтой куба зоогийн газар хүртэл бий бас Азийн бусад хотуудын  нэгэн адил Улаанбаатарт ч үер усны аюул тохиолддог.
1953-2013 онуудад тохиолдсон  34 үерийн 60 хувь нь 2000-2009 оны хооронд болжээ. 1966 оны үерийг “үнэхээр  томоохон хэмжээний үер” байсан гэдгийг монголчууд одоо ч гэсэн  дурсан ярьдаг . Гэвч  тэр үеп  Улаанбаатар хотын хүн ам ердөө 200.000 байсан бол одоо нэг сая 300 мянганд хүрээд байна.    

The Mindanao Trust Fund in the Philippines: still hopeful after 10 years

Roberto B. Tordecilla's picture
Since 2005, the Mindanao Trust Fund (MTF) has worked to build the capacity of the Bangsamoro Development Agency through the “learning-by-doing” approach. Over half a million people in 214 villages across 75 municipalities have benefited from the multi-donor trust fund.

I started working with the World Bank in 2005. I worked first with the ARMM Social Fund Project (ASFP), then with the Mindanao Trust Fund (MTF) about a year later. The ASFP, already at its mid-term, was in support of the 1996 peace agreement and thus the context was post-conflict. The MTF was in support of an on-going peace process and operated in the context of confidence-building.

Working first in the ASFP was a very useful preparation for my MTF work. The two projects were situated in the same geographic and socio-cultural context and had similar operational challenges (e.g., low capacity of staff, governance issues, etc.).