Syndicate content

Add new comment

Trả lời thêm câu hỏi về thành phố phát triển nhanh chóng

Dean Cira's picture

 Also available in English

Dean Cira

 (Chuyên gia về đô thị Dean Cira trong một video mới đây đã trả lời 5 câu hỏi về các thành phố phát triển nhanh chóng do độc giả gửi về qua mạng internet. Trong bài viết này, ông Dean sẽ trả lời thêm một số câu hỏi nữa.)

Mạnh Hà từ Việt Nam hỏi: Đô thị hóa hiện nay tập trung quá nhiều vào xây dựng mới, làm tăng mật độ dân số và xây dựng và làm môi trường sống của người dân bị thu hẹp lại. Theo ông thì đâu là mô hình quy hoạch mà Việt Nam nên sử dụng?

 

 Có một niềm tin phổ biến trong các nhà quy hoạch và người Việt Nam nói chung là cần giảm tải mật độ của các trung tâm đô thị lớn ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh để cải thiện chất lượng cuộc sống. Nhưng thực sự là, nếu xét theo tiêu chuẩn Châu Á thì mật độ của Hà Nội không phải là quá dày đặc. 

Thực sự thì mật độ dân số trung bình của Hà Nội thấp hơn so với Seoul, Thiên Tân và Hồng Kông – những thành phố được coi là khá dễ sống. Nhưng như chúng tôi khuyến nghị trong video trả lời câu hỏi vừa rồi, các nhà quy hoạch đô thị ở Việt Nam cũng như ở bất cứ đâu cũng cần phải tập trung vào đảm bảo tính linh động cho lực lượng lao động và người tiêu dùng, cũng như mức giá nhà đất hợp lý cho doanh nghiệp và hộ gia đình. Về mặt này, các nhà quy hoạch của Việt Nam có thể làm tốt hơn nhiều.

 

 

Trong khi mật độ dân số của Hà Nội có thể không đặc biệt dày đặc so với các thành phố châu Á khác, nhưng Hà Nội lại thiếu cơ sở hạ tầng để hỗ trợ dân cư của mình. Thử lấy ví dụ về không gian đường bộ. Trong nghiên cứu cho Đánh giá Đô thị hóa Việt Nam, chuyên gia về đô thị hóa Alain Bertuad chỉ ra rằng ở những quận trung tâm của Hà Nội, không gian đường phố chỉ chiếm có 9% diện tích, tương đương với Bangkok – một thành phố nổi tiếng với ùn tắc giao thông. Trong khi đó, trung tâm Manhattan của New York dành khoảng 32% còn các quận kinh doanh trung tâm của Seoul dành 14% diện tích cho không gian đường phố, giúp các thành phố này có những lựa chọn giao thông rất hợp lý cho người dân. 

 

Tương tự, người Hà Nội chỉ thực hiện 60 chuyến đi mỗi năm, so với 250 chuyến của người dân ở Barcelona, Tây Ban Nha – một thành phố với mật đô dân cư tương đương. Nguyên nhân là do thiếu cơ sở hạ tầng giao thông. Vấn đề ở đây là các nhà quy hoạch của Việt Nam cần tập trung không chỉ vào xây dựng đô thị và các tòa nhà mới, mà còn phải đảm bảo tính linh động trên phạm vi rộng cho người dân và khả năng chi trả giá nhà đất thông qua quy hoạch hợp lý và duy trì tuần tự quá trình phát triển; với trọng tâm chính là sự thống nhất giữa phát triển nhà đất với giao thông vận tải.

 

Hoàng Đức Minh từ Việt Nam hỏi: Có phải quá trình đô thị hóa đã thu hút thêm nhiều người về thành phố, hay chính quá trình di dân đã buộc các thành phố phải mở rộng? Liệu chúng ta có nên ngăn chặn hoặc hạn chế dòng nhập cư vào thành phố? Tại sao? Nếu có, làm thể nào để thực hiện được?

 

Có một số bằng chứng cho thấy ở Việt Nam, khả năng tiếp cận với các dịch vụ cơ bản ở khu vực thành thị tốt hơn so với khu vực nông thôn, và ở đô thị lớn thì tốt hơn đô thị nhỏ. Đây là một lý do phổ biến khiến người dân di cư từ nông thôn đến các khu vực đô thị. Nhưng cũng có bằng chứng cho thấy phần lớn người Việt Nam đang di dân đến thành phố vì cơ hội kinh tế tốt hơn (nhân tố kéo) chứ không phải là vì thiếu các dịch vụ ở khu vực nông thôn (nhân tố đẩy).

 

Đô thị hoá không đảm bảo tăng trưởng kinh tế và hiện đại hóa nhưng là một phần không thể tách rời trong quá trình chuyển đổi của Việt Nam từ quốc gia thu nhập thấp lên thu nhập trung bình và cao hơn nữa, điều này cũng phụ thuộc khá nhiều vào việc Việt Nam quản lý quá trình chuyển đổi từ kinh tế nông thôn sang thành thị như thế nào. Gần như tất cả các quốc gia đều đô thị hóa ít nhất 50% đô thị hóa trước khi trở thành nước thu nhập trung bình đầy đủ. 

 

Việt Nam dự kiến sẽ đạt mốc này vào năm 2025. Đây là những lý do quan trọng khiến chúng ta không nên cố gắng hạn chế di cư đến các thành phố. Tuy nhiên, Việt Nam sẽ cần phải cẩn trọng cân bằng những vấn đề sẽ phát sinh trong quá trình đô thị hóa nhanh chóng như khả năng tăng chi phí do tắc nghẽn giao thông, bất bình đẳng vùng miền, gia tăng đói nghèo đô thị, ô nhiễm đô thị và tăng giá cả nhà đất. Một số rủi ro đã hiển hiện và ngày càng gia tăng nhanh chóng.

 

Đồng thời, Việt Nam phải sẵn sàng để sử dụng đô thị hóa như một công cụ để duy trì tăng trưởng kinh tế và cơ hội cho tất cả mọi người. Điều này sẽ có nghĩa là, phải đảm bảo khả năng cạnh tranh kinh tế của các vùng kinh tế trọng điểm, đảm bảo tính bền vững kinh tế, xã hội và môi trường của các thành phố (bao gồm cả thành phố cỡ trung và nhỏ), làm cho những nơi này trở thành thành phố mơ ước của tất cả các tầng lớp trong xã hội và tăng năng suất kinh tế thông qua phát triển công nghệ hiện đại và lực lượng lao động được đào tạo tốt hơn và linh động hơn.

 

Sari từ Indonesia hỏi: Liệu có một kế hoạch chi tiết nào cho một thành phố “tốt” mà có thể áp dụng được cho cả những thành phố khác không? Nếu như vậy, sao không chia sẻ và tuân thủ theo một chuẩn mực? Theo ông thì mất bao lâu nữa Jakarta sẽ trở thành một nơi tốt đẹp hơn để sinh sống?

 

Đây là thực sự đều là những câu hỏi rất hay và tôi đã trao đổi với đồng nghiệp của mình là ông Peter Ellis, người đã được sống và làm việc Jakarta trong bốn năm qua để biết thêm ý kiến của ông. Đồng nghiệp của tôi tin rằng Jakarta, giống như nhiều thành phố khác, cần tập trung hơn rất nhiều cho vấn đề kết nối và do đó, cần một hệ thống giao thông công cộng tốt hơn nhiều. Hệ thống này nên tập trung vào mật độ ngày càng tăng xung quanh các tuyến đường và các nút giao thông. 

 

Điều này nghe có vẻ trái ngược với cảm nhận của một số người khi nghĩ rằng Jakarta nên giảm tải mật độ dân số, nhưng với tôi, cách nghĩ này lại đúng. Ông Ellis cũng khuyến nghị rằng khi quy hoạch cho sự thay đổi như vậy, các nhà quy hoạch đô thị của Indonesia nên cân nhắc yếu tố là các nhà máy sản xuất đang rời khỏi Jakarta tới các thành phố lân cận, nơi đất đai và lao động rẻ hơn, và tương lai Jakarta sẽ trở thành một trung tâm dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tài chính.

 

Tôi cũng muốn biết quan điểm của bạn, liệu bạn có nghĩ rằng phương pháp quy hoạch đô thị truyền thống có thực sự áp dụng được đối với các quốc gia đang đô thị hóa hiện nay? Chẳng hạn như ở nhiều nước ở châu Á và châu Phi, chúng ta đang nhìn thấy tốc độ đô thị hóa tăng cao hơn 5% mỗi năm. Và nếu sự phát triển đô thị này đang diễn ra trong bối cảnh có khoảng 20% dân số có thể đủ tiền mua nhà ở, nơi mà tỷ lệ phần trăm dân số sống và làm việc ngoài của khu vực chính thức và quản trị các cấp, nhưng có lẽ đặc biệt là ở cấp địa phương, thường là yếu. 

 

Hầu hết các phương pháp và các công cụ quy hoạch đều được giả định với tốc độ tăng trưởng hợp lý, các thể chế mạnh và một nền kinh tế chính thức. Liệu các phương pháp và công cụ quy hoạch và các mà hầu hết các nhà quy hoạch đô thị được học và sử dụng có phù hợp với quá trình đô thị hóa thế kỷ 21 diễn ra chủ yếu ở các nước đang phát triển hay không?