Syndicate content

East Asia and Pacific

Ứng phó với biến đổi khí hậu – đảm bảo tương lai cho nông dân

Le Thu Thi Nguyen's picture
Also available in: English
Việt Nam là một trong những nước chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Chính phủ đã sử dụng tiền đầu tư để ứng phó với vấn đề này như thế nào? Xem toàn bộ đồ họa thông tin.

Trong đợt công tác chuẩn bị cho dự án trồng mới cây cà phê gần đây tôi đã gặp anh Y Cham, người Ê-đê, tại Dak Lak, vùng trồng cà phê robusta chính tại Tây Nguyên.

Y Cham đã làm nghề nông từ lâu. Anh chia sẻ với chúng tôi về lo lắng của mình cho bốn ha cà phê, đã không được tưới nước đầy đủ do hạn hán kéo dài.

“Nếu không thu hoạch được cà phê như năm ngoái thì cũng không biết làm sao có đủ tiền cho con gái tiếp tục theo học tại Trường Y Hà nội”.

Tây nguyên, nơi có tới 500.000 ha cà phê, đang bị hạn hán nghiêm trọng. Đợt hạn hán năm nay là đợt nghiêm trọng nhất trong 10 năm qua. Khai thác thủy lợi quá nhiều, sử dụng nước lãng phí cộng với thời kỳ khô hạn kéo dài đang gây nhiều khó khăn cho người trồng cà phê nếu họ không chuẩn bị kĩ đễ thích ứng tốt hơn với điều kiện thời tiết thay đổi.

Anh Y Cham cho biết, nước là thách thức lớn nhất trong các yếu tố tác động mạnh nhất tới năng suất cà phê theo thứ tự “nước, giống, vốn, kỹ thuật”. Nguồn nước và giống có khả năng chịu đựng được thời tiết là các yếu tố quan trọng nhất.

Thiếu nước cũng là một trong những chủ đề bàn cãi gay gắt gần đây trong hội nông dân trồng cà phê mà Y Cham tham gia thành lập gồm khoảng 250 thành viên, bên cạnh các vấn đề về biện pháp canh tác tốt do trung tâm khuyến nông tỉnh hỗ trợ cho người trồng cà phê. 

Cho bệnh viện xanh hơn, sạch hơn và an toàn hơn

Sang Minh Le's picture
Also available in: English

Đồng nghiệp thường trêu chọc tôi, một bác sĩ không quản lý bệnh nhân, mà quản lý chất thải y tế. Phải thú nhận rằng đó là công việc lạ. Khi đến bệnh viện, tôi không đi vào cửa trước mà vòng vào phía sau. Ở đó, tôi chẳng đưa ra lời khuyên y khoa nào, mà lại động viên mọi người lao vào chỗ bẩn để làm cho nó sạch hơn.

Thế mà ngày càng nhiều người trong ngành y hào hứng với những công việc lạ như tôi. Bác sĩ Nguyễn Ngọc Dung, giám đốc Bệnh viện Y học cổ truyền Kiên Giang đã truyền lửa cho tất cả cán bộ nhân viên bằng cam kết “không nhìn thấy và không ngửi thấy chất thải” tại bất cứ nơi nào trong bệnh viện.

Đo lường nghèo ở Việt Nam như thế nào?

Linh Hoang Vu's picture
Also available in: English



Thế nào là nghèo ở Việt Nam? Khi tôi lớn lên ở Hà Nội trong những năm cuối thập kỷ 1980, có thể thấy cái nghèo ở khắp mọi nơi. Hầu hết người dân Việt Nam khi đó hẳn là sống ở mức dưới chuẩn nghèo quốc tế (1,25 đô-la một ngày). Bởi lẽ vào thời gian đó chưa có các cuộc khảo sát mức sống để đo lường nghèo nên cũng không có một cách thức rõ ràng để xác định như thế nào là nghèo. Người giàu thời đó là người nào trong nhà có xe máy hay TV, còn người nghèo là những người ăn xin ngoài đường hay người nào không có đủ gạo để ăn. Trong cuộc khảo sát sớm nhất được thực hiện vào năm 1992 và 1993, có khoảng 64% dân số được coi là nghèo theo chuẩn nghèo quốc tế. Sau hai thập kỷ thì chỉ có khoảng dưới 3% dân số là nghèo theo chuẩn nghèo này trong khi tình trạng đói ăn đã được xóa bỏ.

Bản đồ hóa chỉ số nghèo Việt Nam

Gabriel Demombynes's picture
Also available in: English

Chúng tôi vừa ra mắt trang web MapVietnam tại địa chỉ www.worldbank.org/mapvietnam/ trong đó cung cấp số liệu kinh tế xã hội cấp tỉnh và huyện của Việt Nam. Mục đích của trang web là cung cấp thông tin cho các phóng viên, các nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu, và tất cả những người dân cần thông tin về tình hình kinh tế xã hội tại địa phương. Bản đồ sẽ cung cấp các thông tin đa dạng về Việt Nam mà nếu chỉ nhìn vào con số thống kê tổng hợp thì rất khó để hình dung. Thông tin trên trang web được cung cấp cả bằng tiếng Việt và tiếng Anh.

Mở rộng chương trình vệ sinh môi trường tại Việt Nam

Parameswaran Iyer's picture
Also available in: English
Một người dân ở Hòa Bình vui mừng khi xây được nhà vệ sinh mới. Ảnh: Chương trình Nước và vệ sinh mội trường của Ngân hàng Thế giới.


Vệ sinh môi trường mang lại nhiều lợi ích như giảm chi phí chữa bệnh, nâng cao chất lượng cuộc sống, tăng cường an toàn cho phụ nữ và các em gái, đó là chưa kể đến những ích lợi kinh tế tuyệt vời mà vệ sinh mang lại. Nhưng nếu muốn tận dụng được hết những lợi ích đó thì cần phải có các cách tiếp cận mới áp dụng trên qui mô rộng và thúc đẩy tiếp cận bình đẳng. Như Eddy Perez, Chuyên gia trưởng về vệ sinh môi trường, Chương trình Nước sạch và Vệ sinh của Ngân hàng Thế giới, đã chia sẻ trong blog gần đây gây về quá trình loại bỏ bất bình đẳng và giúp mọi người đều có thể tiếp cận dịch vụ đòi hỏi một sự chuyển đổi và từ bỏ cách làm theo lối mòn cũ. (Đọc bài viết bằng Tiếng Anh: Tại sao và bằng cách nào các nước có thể phấn đấu hoàn thành mục tiêu vệ sinh nông thôn cho toàn dân vào năm 2030) và Khắc phục cung ứng dịch vụ vệ sinh cho người nghèo tiến tới hoàn thành mục tiêu kép).

Việt Nam: Một kỳ thi quốc gia có đánh giá được hết năng lực học sinh?

An Thi My Tran's picture
Also available in: English
Học sinh Việt Nam tham dự kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông.
Photo: Van Chung/World Bank

Sau nhiều tháng thảo luận sôi nổi, Bộ Giáo dục và Đào tạo cuối cùng đã ra thông báo về việc tổ chức một kỳ thi quốc gia chung để xét công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) và lấy kết quả làm căn cứ tuyển sinh đại học, cao đẳng.

Cho đến năm học vừa qua, học sinh Việt Nam vẫn phải tham gia hai kỳ thi riêng sau khi hoàn thành 12 năm học phổ thông: một kỳ thi tốt nghiệp THPT và sau đó là kỳ thi tuyển  sinh đại học, cao đẳng. Cả hai kỳ thi này đều có tính quyết định cao và tạo nhiều áp lực lên các em học sinh và gia đình.

Tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam: Góc độ so sánh

Axel van Trotsenburg's picture
Also available in: English


Kể từ cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao với lợi ích bao trùm. GDP bình quân đầu người tăng 3,5 lần trong giai đoạn 1991-2012 — chỉ sau Trung Quốc. Cùng với tốc độ tăng trưởng, phân bố tăng trưởng cũng là một thành tích rất đáng ghi nhận: phần thu nhập quốc gia dành cho nhóm 40% dân nghèo nhất hầu như không thay đổi kể từ đầu thập kỷ 1990 tới nay, điều này đảm bảo rằng tăng trưởng kinh tế được phân phối cho mọi tầng lớp và giảm nghèo một cách đáng kể.

Tuy nhiên, kể từ 2008, tăng trưởng GDP đã đi theo một quỹ đạo thấp hơn. Qua đó đã nảy sinh một số câu hỏi về mức độ bền vững của tăng trưởng và liệu Việt Nam có thể khôi phục mức tăng GDP bình quân đầu người 7-8% hay không. Các nhà phân tích quan ngại về xu thế giảm tăng trưởng năng suất nhân tố tổng hợp và mức độ phụ thuộc ngày càng nhiều vào tích tụ vốn. Thêm vào đó, các nhà đầu tư tư nhân cũng thường xuyên nêu các vấn đề liên quan đến năng lực cạnh tranh như kỹ năng ngày càng thiếu, khó tiếp cận vốn, chi phí thương mại và kho vận tương đối cao, độc quyền của các doanh nghiệp nhà nước và bộ máy hành chính cồng kềnh gây cản trở hoạt động của doanh nghiệp.

Việt Nam phải đối mặt với những thách thức gì khi tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân?

Aparnaa Somanathan's picture
Also available in: English



Trong tuần này, Việt Nam sẽ chủ trì tổ chức Hội nghị các Bộ trưởng Y tế ASEAN lần thứ 12 tại Hà Nội. Bảo hiểm y tế toàn dân  (BHYTTD) sẽ là một trong những chủ đề chính của hội nghị, cả trong các diễn đàn chính thức và không chính thức, giữa các nhà hoạch định chính sách của khu vực. Dù thế nào thì mục tiêu tiến tới BHYTTD, được hỗ trợ bởi việc tăng chi tiêu của nhà nước để trợ cấp cho các đối tượng tham gia bảo hiểm, cũng là một trong những nội dung có sự thống nhất cao nhất trong chính sách y tế của khu vực ASEAN hiện nay.
  
Có thể nói, Việt Nam đã phần nào đi trước khu vực nhờ tăng đều độ phủ bảo hiểm y tế trong suốt những năm 1990. Với Luật Bảo hiểm Y tế ban hành năm 2008, Việt Nam đã hợp nhất các chương trình bảo hiểm y tế hiện hành, áp dụng chính sách một bên chi trả duy nhất, trước cả một số nước lớn trong ASEAN khác như Inđônêxia và Philipin. Hiện nay, không những có tới 68% dân số đã tham gia bảo hiểm y tế mà nhà nước cũng đã đầu tư đáng kể vào cơ sở hạ tầng bên cung và nâng cao năng lực nguồn nhân lực y tế trong nước để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng của người dân.

Vai trò lãnh đạo của phụ nữ tại Việt Nam quan trọng như thế nào?

Victoria Kwakwa's picture
Also available in: English

Việt nam đã đạt được những tiến bộ rất đáng khích lệ trong bình đẳng giới như tỉ lệ đi học của trẻ em gái và tỉ lệ của lao động nữ trong lực lượng lao động rất cao. Cuối năm 2013 chúng ta có một tin vui là một nghiên cứu của Grant Thornton, cho thấy phụ nữ Việt nam ngày càng nắm nhiều vị trí lãnh đạo trong các doanh nghiệp. Tỉ lệ nữ trong hội đồng quản trị tại các doanh nghiệp Việt Nam là 30% trong khi tỉ lệ trung bình toàn cầu là 19%. Tỉ lệ đảng viên nữ trong Đảng Cộng sản Việt Nam cũng tăng từ 25% năm 2005 lên 30% năm 2010. Tuy vậy, đa số các vị trí lãnh đạo doanh nghiệp, chính quyền và đời sống chính trị vẫn là nam giới. Xét chung về vai trò của phụ nữ trên các cương vị lãnh đạo thì còn nhiều việc cần làm.  

Tỉ lệ nữ trong Quốc hội giảm dần trong thập niên vừa qua. Trong số 9 người đứng đầu các ủy ban của Quốc hội, chỉ có 1 là nữ. Số phụ nữ trong các cơ quan quan trọng nhất của Đảng như Bộ Chính chị, Ban chấp hành trung ương và Ban bí thư còn rất thấp (chỉ có 2 nữ trong số 16 ủy viên Bộ Chính trị). Về phía chính quyền, tuy tỉ lệ nữ công chức lớn, nhưng tỉ lệ lãnh đạo nữ lại khá thấp và ở cấp thấp: tỉ lệ lãnh đạo nữ cấp phòng là 11%, cấp sở là 5% và cấp bộ là 3% (UNDP, 2012).

Câu hỏi đặt ra là liệu chúng ta có nên coi vấn đề có thêm nhiều phụ nữ vào cương vị lãnh đạo là quan trọng không? Cần làm như vậy cho “phải phép” hay liệu việc nhiều phụ nữ tham gia lãnh đạo doanh nghiệp, chính quyền và đời sống chính trị thực sự mang lại lợi ích cho quá trình phát triển của đất nước?
 

Pages