Syndicate content

Gender

Lồng ghép giới trong tái định cư: Chúng ta đã cố hết sức chưa?

Nghi Quy Nguyen's picture
Also available in: English
Một phụ nữ người Thái tại buổi lấy ý kiến về dự án thuỷ điện
Trung sơn.  Photo: Bồ Thị Hồng Mai / Ngân hàng Thế giới


Tháng 8 năm 2016, tôi đến Quảng Ngãi, một tỉnh miền Trung Việt Nam, nhằm thu thập số liệu điều tra về sự tham gia của phụ nữ trong quá trình tái định cư. Tôi nghĩ cuộc họp đầu tiên với người dân địa phương sẽ diễn ra suôn sẻ và nhanh chóng, nhưng thực tếkhông hẳn như vậy.

“Phụ nữ á? Chúng tôi tham gia á? Tham gia cũng thế thôi. Chúng tôi chỉ quanh quẩn ở nhà, nên không quan tâm đến việc cán bộ đến và hỏi chúng tôi tham gia hay không,” một phụ nữ nói. “Cái chúng tôi muốn biết là những kiến nghị hôm nay sẽ được thực hiện đến đâu. Chúng tôi cần một khu tái định cư, nhà văn hoá chung cho cộng đồng, cần có cây cối và nhà trẻ như đã hứa khi chuẩn bị dự án.”

Những ý kiến đó hé lộ một vấn đề quan trọng. Đó là sự lệch pha giữa cái mà ta tưởng là phụ nữ muốn và nhu cầu thực sự của họ.

Phụ nữ chịu tác động nghiêm trọng hơn nam giới trong quá trình tái định cư bởi họ phải đối đầu với nhiều khó khăn trong vấn đề ổn định gia đình. Điều này càng dễ thấy nếu không có cơ chế thu hút sự tham gia và lấy ý kiến phụ nữ một cách thực chất trong quá trình thực hiện dự án nói chung và trong quá trình tái định cư nói riêng.

Xoá bỏ những định kiến về giới đang cản trở phát huy quyền và năng lực của phụ nữ tại Việt Nam

Victoria Kwakwa's picture
Also available in: English
Tạo cơ hội việc làm để trao quyền và nâng cao năng lực cho phụ nữ tại Việt Nam


Tháng 8/2015, tôi cùng đồng nghiệp đến An Giang thăm các đối tượng hưởng lợi của một dự án sáng tạo giúp 200 phụ nữ dân tộc Chăm học nghề thêu. Những phụ nữ này có thể tự tạo thu nhập bằng cách bán sản phẩm thêu của mình. Chúng tôi cảm thấy rất ấn tượng trước sự thay đổi tích cực mà khoản đầu tư nhỏ của dự án đã mang lại cho những phụ nữ này và gia đình họ.
 
Dự án nhận được sự tài trợ của Chương trình Ngày Phụ nữ Sáng tạo Việt Nam 2013 và hỗ trợ của Hội Phụ nữ Việt Nam đã cho phép Ngân hàng Thế giới và các nhà tài trợ công và tư nhân khác hỗ trợ phụ nữ Chăm, tăng cường năng lực kinh tế của mình bằng nghệ thuật thêu truyền thống.
 
“Dự án đào tạo và tạo việc làm này đã giúp một số phụ nữ tạo được thu nhập ổn định, khoảng trên 2 triệu đồng, mà không phải đi làm xa nhà. Như vậy có nghĩa là họ vẫn có thể trong nom con cái và lo việc gia đình”, bà Kim Chi, một chủ doanh nghiệp địa phương và đồng thời là người khởi xướng dự án chia sẻ. “Phụ nữ tham gia dự án không chỉ học được nghề dệt, gìn giữ truyền thống của người Chăm mà còn có thể trao đối kinh nghiệm nuôi dạy con cái, tổ chức một cuộc sống lành mạnh và giúp đỡ nhau khi cần.”
 
Tuy rất phấn khích về thành công của dự án nhưng chúng tôi cũng nhận thấy rằng nếu các chuẩn mực văn hoá đòi hỏi phụ nữ Chăm phải làm việc ở nhà không thay đổi thì khó có thể nào giúp phụ nữ Chăm phát huy quyền của mình và phát triển đầy đủ tiềm năng kinh tế và xã hội của họ thông qua các dự án tương tự, dù các dự án đó được thiết kế và thực hiện tốt như thế nào.
 

Vai trò lãnh đạo của phụ nữ tại Việt Nam quan trọng như thế nào?

Victoria Kwakwa's picture
Also available in: English

Việt nam đã đạt được những tiến bộ rất đáng khích lệ trong bình đẳng giới như tỉ lệ đi học của trẻ em gái và tỉ lệ của lao động nữ trong lực lượng lao động rất cao. Cuối năm 2013 chúng ta có một tin vui là một nghiên cứu của Grant Thornton, cho thấy phụ nữ Việt nam ngày càng nắm nhiều vị trí lãnh đạo trong các doanh nghiệp. Tỉ lệ nữ trong hội đồng quản trị tại các doanh nghiệp Việt Nam là 30% trong khi tỉ lệ trung bình toàn cầu là 19%. Tỉ lệ đảng viên nữ trong Đảng Cộng sản Việt Nam cũng tăng từ 25% năm 2005 lên 30% năm 2010. Tuy vậy, đa số các vị trí lãnh đạo doanh nghiệp, chính quyền và đời sống chính trị vẫn là nam giới. Xét chung về vai trò của phụ nữ trên các cương vị lãnh đạo thì còn nhiều việc cần làm.  

Tỉ lệ nữ trong Quốc hội giảm dần trong thập niên vừa qua. Trong số 9 người đứng đầu các ủy ban của Quốc hội, chỉ có 1 là nữ. Số phụ nữ trong các cơ quan quan trọng nhất của Đảng như Bộ Chính chị, Ban chấp hành trung ương và Ban bí thư còn rất thấp (chỉ có 2 nữ trong số 16 ủy viên Bộ Chính trị). Về phía chính quyền, tuy tỉ lệ nữ công chức lớn, nhưng tỉ lệ lãnh đạo nữ lại khá thấp và ở cấp thấp: tỉ lệ lãnh đạo nữ cấp phòng là 11%, cấp sở là 5% và cấp bộ là 3% (UNDP, 2012).

Câu hỏi đặt ra là liệu chúng ta có nên coi vấn đề có thêm nhiều phụ nữ vào cương vị lãnh đạo là quan trọng không? Cần làm như vậy cho “phải phép” hay liệu việc nhiều phụ nữ tham gia lãnh đạo doanh nghiệp, chính quyền và đời sống chính trị thực sự mang lại lợi ích cho quá trình phát triển của đất nước?